Các đối tác

logo_lld

logo_5153

Thông kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterNgày hôm nay171
mod_vvisit_counterHôm qua583
mod_vvisit_counterTuần này5122
mod_vvisit_counterTuần trước4887
mod_vvisit_counterTháng này18380
mod_vvisit_counterTháng trước18571
mod_vvisit_counterTổng lượt truy cập817498
lichkham
hoidap
bando

Dịch vụ Online

Như Ý
ĐT: 043 9449 335
Duy Toàn
ĐT: 043 9449 335
Đỗ Hoài
ĐT: 043 9449 335

Thăm dò ý kiến

Bạn biết bệnh viện mắt HITEC qua phương tiện nào?
 
Bệnh cận thị PDF. In Email
Viết bởi BS Bệnh viện Mắt HITEC   
Thứ năm, 30 Tháng 9 2010 05:53

Cận thị là một loại tật khúc xạ phổ biến rất hay gặp ở lứa tuổi học sinh. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và thói quen sinh hoạt, tỷ lệ cận thị ngày càng gia tăng gây nhiều ảnh hưởng đến chất lượng sống và kết quả học tập của lớp trẻ. Theo nhiều nghiên cứu gần đây, tỷ lệ cận thị học đường chiếm từ 30 – 40 % số lượng học sinh, đặc biệt là học sinh thành phố, có nơi tỷ lệ này lên tới 80 %.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Thế nào là mắt cận thị?

Bình thường ảnh của sự vật đi qua các hệ thống quang học của mắt rồi được hội tụ đúng trên võng mạc, giúp mắt nhìn rõ được cảnh vật. Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ.

myopia

                                    Ảnh của vật hội tụ trước võng mạc

Về cơ chế bệnh sinh, người ta chia cận thị ra làm 2 loại là cận thị khúc xạ và cận thị trục.

Cận thị khúc xạ: Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn, (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh quy định) trong khi chiều dài trục nhãn cầu bình thường. Loại này hay gặp trong cận thị học đường. Khi mắt phải nhìn gần với cường độ lớn và trong một thời gian dài, thể thủy tinh bị phồng lên làm tăng độ hội tụ của mắt. Lúc này muốn nhìn rõ, phải đưa hình ảnh của vật lại gần mắt. Những sự vật ở xa, mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị. Cận thị học đường xuất hiện ở lứa tuổi đi học, xuất hiện càng sớm thì khả năng tiến triển càng nhanh và nặng. Cận thị học đường đơn thuần ít khi quá 6 đi ốp và thường không kèm theo giãn mỏng võng mạc và các nguy cơ khác của đáy mắt.

Cận thị trục: Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường. Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học. Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù lòa.

Các dấu hiệu của trẻ bị cận thị:

  • Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi.
  • Hay nheo mắt để nhìn mọi vật, đặc biệt khi ánh sang yếu. Hoặc có những động tác bất thường liên tục như dụi mắt, nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn
  • Trẻ kêu mắt nhìn mờ hoặc nhức mắt
  • Kết quả học tập sút kém, không thích các hoạt động nhìn xa như đá bong, đá cầu mà thích thú hơn với việc đọc truyện, xem phim, chơi game…
  • Trẻ bị cận thị nặng có thể bị lác mắt kèm theo.
  • Trẻ bị cận thị cần phải được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa mắt để xác định chính xác mức độ cận thị, loại cận thị, phát hiện và điều trị các tổn thương ở đáy mắt nếu có.

myopic_vision

                                                 Nhìn xa mờ nhòe

Quy trình khám mới một trẻ cận thị:

Thăm hỏi về thời gian và mức độ các biểu hiện của cận thị.

Thử thị lực không kính và thị lực qua kính lỗ để xác định sơ bộ có mắc tật khúc xạ hay không

Đo khúc xạ trên hệ thống đo khúc xạ tự động với chức năng khử điều tiết. Đánh giá mức độ ổn định giữa các lần đo và sự phù hợp giữa kết quả đo được với mức độ giảm thị lực. Sự không phù hợp này hướng tới một dạng cận thị giả

Thử thị lực với kính.

Tra thuốc liệt điều tiết và đo lại khúc xạ khách quan: Skiascopy.

Xem xét sự tương quan giữa khúc xạ khách quan sau tra thuốc liệt điều tiết và kết quả thử thị lực trước khi tra liệt điều tiết. Nếu thấy phù hợp, bác sỹ sẽ cấp đơn kính cho bệnh nhân. Nếu có sự không phù hợp, bác sỹ sẽ hẹn bệnh nhân lần sau đến thử kính, khi hết tác dụng của thuốc liệt điều tiết.

Quy trình này hạn chế được tối đa thời gian để thực hiện đầy đủ một quy trình khám khúc xạ nhằm đưa ra một kết quả chính xác nhất.

Điều trị:

Đeo kính: Trẻ bị cận thị cần được đeo kính cận thị đúng số. Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, giúp phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện và giúp trẻ hòa nhập vào thế giới năng động và nhiều màu sắc của chúng. Cần hiểu rằng 80% thông tin của cuộc sống là do chức năng thị giác mang lại. Đeo kính giúp mắt nhìn xa rõ, nhìn gần ở khoảng cách bình thường, giảm dần thói quen nhìn sát vào sách vở, do đó có tác dụng hạn chế được tốc độ tăng số của mắt. Đeo kính thường xuyên là tốt nhất, đặc biệt khi học hành, xem ti vi.

Kính cần được lắp đúng kỹ thuật, phù hợp với kích thước khuôn mặt, biết cách bảo quản tránh xây xước kính.

Chế độ vệ sinh thị giác: Cần bố trí hợp lý giữa thời gian học hành, xem sách báo với thời gian hoạt động ngoài trời. Cần tập thói quen nhìn xa, tập nhìn xa 15 – 30 phút / ngày. Giờ ra chơi nên chơi ở nơi thoáng rộng. Học hành 40 – 45 phút nên cho mắt nghỉ ngơi 5 - 10 phút. Thường xuyên mát xa quanh mắt để thư giãn điều tiết cho mắt.

vui_choi

                                 Cho trẻ vui chơi ở nơi thoáng rộng

Dinh dưỡng: Ăn uống đủ chất, đặc biệt là rau củ quả màu xanh thẫm hoặc màu đỏ. Ăn đủ thịt, cá, trứng, sữa. Có thể uống các loại thuốc bổ về mắt hoặc thực phẩm chức năng để tăng cường chức năng và chống thoái hóa cho các thành phần của mắt.

 

HỎI ĐÁP:

1. Uống thuốc và bấm huyệt chữa được cận thị?

Cần phải xác định rõ cận thị giả (co quắp điều tiết) cận thị thực sự.

Co quắp điều tiết xảy ra khi mắt nhìn gần trong thời gian dài, cường độ làm việc cao. Mắt mỏi nhức và khi đo khúc xạ thấy độ cận thị khá cao không tương xứng với mức thị lực. Khi tra thuốc liệt điều tiết, đo khúc xạ khách quan sẽ thấy không còn cận thị nữa. Cơ sở không phải chuyên khoa mắt sẽ cấp kính cho bệnh nhân, tất nhiên số kính này không chính xác. Co quắp điều tiết được điều trị bằng nghỉ ngơi thư giãn mắt, uống thuốc bổ mắt, xoa bóp bấm huyệt cũng có tác dụng thư giãn mắt khá tốt. Sau đó mắt sẽ dần điều chỉnh được.

Cận thị thực sự khi tra thuốc liệt điều tiết, vẫn còn tồn tại cận thị khi đo khúc xạ khách quan. Việc này chỉ thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa mắt. Khi đã cận thị thực sự, chỉ có đeo kính mới làm tăng thị lực. Các phương pháp châm cứu bấm huyệt, uống thuốc bổ mắt chỉ là phụ trợ làm tăng khả năng chịu đựng của mắt, hoặc làm giảm quá trình tăng số kính chứ không làm giảm độ cận thị được

2. Khi bị cận thị, đeo kính sẽ bị phụ thuộc vào kính do vậy không nên đeo kính?

Nhiều người có quan điểm sai lầm này. Người bị cận thị mắt nhìn kém, cần đeo kính để tăng chức năng thị giác, tăng chất lượng cuộc sống. Không đeo kính sẽ làm chức năng thị giác kém phát triển, đặc biệt ở trẻ nhỏ dễ làm rối loạn phát triển thị giác hai mắt.

3. Mắt cận thị nhìn gần vẫn rõ do vậy chỉ đeo kính khi nhìn xa?

Quan điểm này không hoàn toàn đúng, mặc dù một vài bác sỹ vẫn khuyên bệnh nhân như vậy. Trong lớp học khi nhìn vào vở thì bỏ kính ra còn nhìn lên bảng thì đeo kính vào?? Quan điểm này nghiễm nhiên cho rằng mắt cận thị chức năng nhìn gần vẫn bình thường, chỉ có chức năng nhìn xa mới bị ảnh hưởng.

Thực ra thì mắt cận thị muốn nhìn rõ được vật thì phải đưa lại gần sát mắt, gần hơn nhiều so với người bình thường, đặc biệt khi cận thị trung bình và nặng. Đeo kính cận thường xuyên giúp chức năng nhìn của mắt trở về gần như người bình thường, nhìn xa rõ mà nhìn gần cũng không phải đưa sát mắt. Tư thế này giúp hình thành một thói quen tốt trong tư thế học hành, tránh được hiện tượng tăng số kính quá nhanh do thói quen nhìn gần.

4. Thoái hóa võng mạc do cận thị có nguy hiểm không?

Những trường hợp cận thị học đường thường ít có thoái hóa võng mạc hoặc chỉ thoái hóa nhẹ. Những trường hợp cận thị trục ( cận thị bệnh lý) thường có thoái hóa võng mạc nhiều, đặc biệt là võng mạc chu biên. Thoái hóa võng mạc chu biên có thể gây rách võng mạc dẫn tới bong võng mạc, một biến chứng rất nặng của cận thị. Nguy cơ bong võng mạc của mắt bị cận thị cao hơn gấp đôi người bình thường. Do vậy, người bị cận thị nặng cần được hướng dẫn chế độ lao động hợp lý, khám theo dõi đáy mắt định kỳ để phát hiện các thoái hóa võng mạc nguy cơ. Nếu có các thoái hóa này cần được laser quang đông điều trị kịp thời.

5 Chất lượng một cái kính cận thị như thế nào thì tốt?

Trước hết, đơn kính phải chính xác về số đi ốp, khoảng cách đồng tử. Sau đó là quá trình chọn gọn kính phù hợp khuôn mặt, chọn mắt kính chất lượng tốt và cuối cùng là quy trình lắp kính chính xác.

Khoảng cách đồng tử sai sẽ làm sai lệch hình ảnh hội tụ trên võng mạc, làm mắt mỏi, khó chịu khi đeo kính.

Gọng kính phù hợp khuôn mặt sẽ làm dễ chịu khi đeo kính, khoảng cách từ mắt tới mắt kính phù hợp ( khoảng cách đỉnh sau) từ 12 -14 mm. Đồng thời tăng thẩm mỹ giúp người đeo kính tự tin hơn trong giao tiếp.

Chất lượng mắt kính cực kỳ quan trọng. Hiện nay trên thị trường đa số là các mắt kính rẻ tiền kém chất lượng, khúc chiết ánh sáng không đủ tiêu chuẩn ( kính mờ đục, không được trong), chất lượng hình ảnh không tốt (giống như gương soi chất lượng không tốt, hình ảnh sẽ bị méo, không thật), độ bền kém, không có các chức năng bảo vệ mắt. Các loại mắt kính cao cấp có xuất sứ rõ ràng tuy hơi đắt nhưng đảm bảo chất lượng. Kính có độ trong suốt cao, hình ảnh trung thực, bền, có các chức năng chống chói lóa, ngăn cản các tia có hại cho mắt như tia cực tím UV.

Quy trình mài lắp kính cũng vô cùng quan trọng. Mài lắp kính không đúng sẽ làm sai chỉ số kỹ thuật của kính làm người đeo kính khó chịu, có khi còn có hại cho mắt.

6 Chế độ khám định kỳ như thế nào?

Nên theo dõi định kỳ để điều chỉnh kính cho phù hợp với mức độ cận thị. Trong các trường hợp cận thị nặng có thoái hóa hắc võng mạc, theo dõi các tổn thương thoái hóa ở đáy mắt rất quan trọng để có can thiệp kịp thời như điều chỉnh chế độ lao động, điều trị laser đáy mắt…

7. Dùng thuốc gì cho người bị cận thị?

Cơ bản nhất là điều chỉnh một chế độ sinh hoạt hợp lý, chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng và vitamin. Ngoài ra có thể dùng một số thuốc cung cấp thêm các loại vitamin và các chất chống thoái hóa võng mạc,ở dạng tự nhiên là tốt nhất. Thuốc uống chỉ có tác dụng hỗ trợ, không điều trị được cận thị. Do vậy không nên dùng liều cao và kéo dài.

8. Làm thế nào để hạn chế tăng số kính cận ở trẻ em?

Ở lứa tuổi học đường, mắt còn chịu tác động nhiều của các hoạt động nhìn gần và cấu trúc nhãn cầu còn nhiều thay đổi theo môi trường sống do vậy vẫn xảy ra hiện tượng tăng số kính. Tuy nhiên, việc bố trí thời lượng học tập và vui chơi giải trí sẽ giúp mắt được thư giãn, tránh được hiện tượng tăng số kính quá nhanh. Quan trọng nhất là tạo thói quen đừng nhìn gần quá và để mắt thường xuyên được  nhìn xa. Hãy bố trí cho các cháu nhỏ một không gian sống và vui chơi thật thoáng mát và rộng rãi. Thỉnh thoảng uống một ít thuốc bổ mắt cũng tốt, tuy nhiên đừng quá lạm dụng không cần thiết.

9. Khi nào thì mổ được mắt cận?

Tùy thuộc vào tình trạng ổn định của mắt mà bác sỹ sẽ cho lời khuyên thích hợp. Mổ cận khi độ cận đã thực sự ổn định, trong vòng 6 tháng không tăng quá .,5 đi ốp. Tuy nhiên, ít nhất phải sau 18 tuổi mới sử dụng được phương pháp này. Một số trường hợp đặc biệt như lệch khúc xạ quá cao gây nhược thị, có thể chỉ định mổ sớm hơn ở mắt bị cận nặng, tuy nhiên điều này cần có sự cam kết của gia đình.

10. Cận thị có biến chứng gì không?

Cận thị học đường đơn thuần không có tổn thương đáy mắt thường không gây biến chứng gì. Nếu có các tổn thương đáy mắt như thoái hóa hắc võng mạc, đặc biệt lầ thoái hóa võng mạc chu biên có thể gây rách võng mạc dẫn đến bong võng mạc. Đây là biến chứng rất nặng, có thể dẫn đến mù lòa. Người bị thoái hóa hắc võng mạc do cận thị cần phải được theo dõi định kỳ, laser đáy mắt nếu cần thiết.

Ths.Bs. Đặng Xuân Nguyên

BV Mắt Hitec